Bóng bàn Trung Quốc giành HCV ở 4 trong 7 nội dung tại giải vô địch châu Á 2026 vừa kết thúc ở Tashkent (Uzbekistan), theo SGGP đưa tin ngày 26/10. Bốn tấm HCV đến từ đơn nữ, đôi nam, đôi nữ và đồng đội nam. Ba nội dung còn lại là đơn nam, đồng đội nữ và đôi nam nữ đều thuộc về Nhật Bản, và cả ba lần Nhật Bản đều thắng đối thủ Trung Quốc trong trận chung kết.
Chen Yi và Lin Shidong tỏa sáng
Gương mặt nổi bật nhất ngày thi đấu cuối là Chen Yi. Tay vợt 22 tuổi đánh bại đồng đội Wang Yidi ở bán kết, rồi thắng Miwa Harimoto (Nhật Bản) 11-5, 11-8, 11-6 trong trận chung kết đơn nữ diễn ra cùng ngày. Theo SGGP, đây là lần đầu tiên kể từ năm 2023, thời Wang Manyu, bóng bàn nữ Trung Quốc giành lại HCV đơn nữ châu Á.
Hành trình của Chen Yi ở Tashkent không hề suôn sẻ. Cô cho biết đã thua hai trận trong loạt chung kết đồng đội nữ, và cùng Huang Youzheng để thua Miwa Harimoto và Sora Matsushima ở chung kết đôi nam nữ. Sau chức vô địch đơn nữ, Chen Yi nói: “Tôi thực sự biết ơn các đồng đội và HLV của mình.” Cô kể đã quyết đoán hơn ở những cú trả giao bóng và gọi chiến thắng là “phần thưởng tốt nhất cho đội”.
Ở đôi nam, Lin Shidong và Huang Youzheng ngược dòng thắng hai đồng hương Wen Ruibo và Yuan Licen sau khi thua ván đầu, mang về HCV đôi nam châu Á đầu tiên cho Trung Quốc kể từ năm 2023. Chung kết đôi nữ là một cuộc đọ sức Trung Quốc - Nhật Bản, trong đó Kuai Man và Wang Yidi cũng thua ván đầu trước khi vượt qua Miwa Harimoto và Hina Hayata. Tấm HCV thứ tư đến ở nội dung đồng đội nam, khi đội hình Lin Shidong, Zhou Qihao, Wen Ruibo, Xiang Peng và Huang Youzheng thắng Hàn Quốc 3-0 ở chung kết.
Tổng hợp bảy trận chung kết
Kết quả các trận chung kết theo SGGP:
| Nội dung | Vô địch | Á quân | Tỷ số |
|---|---|---|---|
| Đơn nữ | Chen Yi (Trung Quốc) | Miwa Harimoto (Nhật Bản) | 11-5, 11-8, 11-6 |
| Đôi nữ | Kuai Man / Wang Yidi (Trung Quốc) | Miwa Harimoto / Hina Hayata (Nhật Bản) | 9-11, 11-8, 11-9, 11-8 |
| Đôi nam | Lin Shidong / Huang Youzheng (Trung Quốc) | Wen Ruibo / Yuan Licen (Trung Quốc) | 8-11, 11-7, 11-5, 11-6 |
| Đồng đội nam | Trung Quốc | Hàn Quốc | 3-0 |
| Đơn nam | Tomokazu Harimoto (Nhật Bản) | Li Tianyang (Trung Quốc) | 3-2 |
| Đồng đội nữ | Nhật Bản | Trung Quốc | 3-2 |
| Đôi nam nữ | Miwa Harimoto / Sora Matsushima (Nhật Bản) | Chen Yi / Huang Youzheng (Trung Quốc) | - |
Giải năm nay là lần thứ 29, kể từ khi giải vô địch châu Á lần đầu được tổ chức năm 1972. Với Trung Quốc, HCV đồng đội nam là lần thứ tư liên tiếp ở sân chơi châu lục. Với Lin Shidong, đây là tấm HCV thứ tư trong sự nghiệp ở hệ thống giải vô địch châu Á. Anh từng vô địch thế giới đồng đội nam, giành HCV World Cup đồng đội hỗn hợp và vừa giành cú đúp đơn nam, đôi nam tại ASIAD 20.
Tiếp theo
Sau Tashkent, Lin Shidong bước tiếp với vị trí thứ 9 trên bảng xếp hạng đơn nam ITTF công bố tháng 10/2026. Anh từng leo lên vị trí số một thế giới vào tháng 12/2025 sau loạt thành tích ấn tượng trong giai đoạn đầu năm 2025.
Với bóng bàn Trung Quốc, giải đấu mang về hai ngôi vị lần đầu giành lại kể từ năm 2023 là đơn nữ và đôi nam, đồng thời nối dài chuỗi bốn lần liên tiếp vô địch đồng đội nam. Nhật Bản rời Tashkent với ba HCV, trong đó Miwa Harimoto góp mặt ở ba trận chung kết đơn nữ, đôi nữ và đôi nam nữ. Riêng Chen Yi, người vừa có chức vô địch đơn nữ châu Á, coi giải đấu là “một trải nghiệm quý giá” với bản thân.
